Trang được xây dựng trên tempi - nền tảng xây dựng Website & Landing Page chuyên nghiệpSử dụng miễn phí ngay
0

Từ làng Đông Hồ ở Bắc Ninh, những tấm tranh mộc mạc mang hơi thở dân gian đã lan rộng khắp miền Bắc, trở thành di sản nghệ thuật của nhiều thế hệ người Việt. Với ván khắc gỗ, giấy dó, màu tự nhiên và hình ảnh đời thường: những con trâu, em bé ôm vịt, cánh đồng lúa,... Tranh Đông Hồ hiện lên giản dị nhưng giàu sức sống, kể câu chuyện về nông nghiệp, tín ngưỡng và khát vọng hạnh phúc của người dân. Đến nay, tranh không chỉ đơn thuần là đồ trang trí mà còn là biểu tượng văn hóa mang tinh thần dân gian sâu sắc.

Nét đặc trưng của tranh Đông Hồ

Nét độc đáo dễ nhận biết nhất ở tranh Đông Hồ chính là kỹ thuật khắc gỗ, in màu thủ công. Mỗi bức tranh thường được in từ nhiều bản khắc gỗ: một bản để khắc nét viền, các bản khác để in từng màu, mỗi màu tương ứng một khối gỗ khắc riêng. Số lượng khối khắc có thể khá nhiều, tùy vào độ phức tạp của tranh. Vì được làm hoàn toàn thủ công, mỗi tấm tranh có thể mang dấu ấn riêng, nhưng nhìn chung đều giữ được những đặc điểm nhất quán: nét viền đen rõ, màu sắc tươi sáng, bố cục đơn giản, dễ hiểu.

Bức tranh Đàn gà mẹ con vẽ khung cảnh gà mẹ đang chăm nom cho đàn con của mình. Tranh biểu trưng cho sự đầm ấm gia đình, sinh sôi nảy nở, con cháu sum vầy. (Ảnh: Sưu tầm)

Về chất liệu, giấy dùng để in là giấy dó (lụa dó/“giấy điệp”), được làm từ vỏ cây dó, xử lý thủ công để bền nước, bền màu. Màu in được chế từ nguyên liệu thiên nhiên: than tre hay tro tre cho màu đen, đất tự nhiên cho đỏ, lá cây cho xanh, vỏ sò hòa với hồ gạo để tạo nền trắng ánh kim chính những nguyên liệu giản dị ấy tạo nên vẻ vintage đặc trưng, bền màu theo thời gian.

Hình ảnh trong tranh đa dạng nhưng thường là những chủ đề gần gũi với đời sống nông nghiệp: trâu, lợn, gà, điền viên, cảnh làng quê, sinh hoạt gia đình, phong tục, lễ hội, hay các câu chuyện lịch sử, truyền thuyết. Những hình vẽ này được cách điệu, dung dị, dễ hiểu và chứa đựng thông điệp về may mắn, đủ đầy, giáo dục, luân lý. Vì vậy, tranh Đông Hồ dễ chạm vào cảm xúc và dễ lan tỏa, từ nhà cổ, đình làng đến không gian hiện đại.

Quy trình làm tranh Đông Hồ

Quy trình tạo một bức tranh Đông Hồ gồm nhiều công đoạn thủ công tinh xảo từ chuẩn bị giấy, khắc gỗ, in màu, đến hoàn thiện và bảo quản. Trước hết, giấy dó được sản xuất từ vỏ cây dó, ngâm nát, chế biến để tạo mặt giấy dai, chịu được nước và in nhiều lần. Sau đó, giấy được trét một lớp hồ gạo pha vỏ sò nghiền, lớp nền gọi là “giấy điệp” giúp tạo nền sáng, hơi nhũ, giúp màu nổi bật và bền lâu.

Sản xuất giấy điệp bằng cách quét hỗn hợp được trộn từ hồ dán và bột vỏ sò qua nhiều lớp bằng chổi lá thông. (Ảnh: Triphunter)

Tiếp theo là công đoạn khắc gỗ: người thợ sử dụng gỗ khoẻ, bền để khắc viền hình và các khối màu. Chính vì thế, các tấm khắc gỗ có thể lưu giữ nhiều năm và dùng lại nhiều lần. Đến khi in, từng khối gỗ được phủ màu tự nhiên rồi ấn lên giấy, tô từng lớp màu theo đúng thứ tự để tránh lem, đòi hỏi tay nghề rất chính xác. Cuối cùng, tranh được phơi khô dưới nắng, kiểm tra lại nét và màu. Mỗi bức tranh là kết quả của nhiều công đoạn đòi hỏi kiên nhẫn, tỉ mỉ và sự am hiểu về vật liệu thiên nhiên.

Khuôn khắc được thực hiện tỉ mỉ bởi các nghệ nhân, đảm bảo các lớp in đúng hình và vị trí in. (Ảnh: L.Sơn)

Những năm cuối thập niên trước, khi lối sống hiện đại tràn vào nông thôn, kỹ thuật làm tranh bị mai một, nhiều gia đình đã chuyển qua làm đồ giấy cúng hoặc bỏ nghề. Tuy vậy, vẫn có vài nghệ nhân tâm huyết giữ nghề, bảo tồn gốc khắc gỗ và giấy dó, cho thấy giá trị của tranh Đông Hồ vẫn được trân trọng và nỗ lực gìn giữ.

Ý nghĩa văn hóa - xã hội của tranh Đông Hồ

Tranh Đông Hồ không đơn thuần là đồ trang trí; nó là gương soi tâm hồn văn hoá Việt, phản ánh đời sống nông nghiệp, tín ngưỡng, phong tục, ước mơ và giá trị cộng đồng từ xưa đến nay. Nhiều bức tranh mang thông điệp phúc lộc, mong cho gia đình an khang, mùa màng bội thu, con cháu đủ đầy; có bức lại ghi lại cảnh làng xã, sinh hoạt, lễ hội, giúp người xem hiểu hơn về đời sống xưa, tinh thần cộng đồng và lòng nhân văn.

Tranh vẽ cảnh đám cưới của cặp đôi chuột, đang dâng sính lễ lên cho mèo, mong cầu một cuộc sống bình yên sau lễ cưới. Bức tranh Đám cưới chuột là tiếng lòng của nhân dân đối với xã hội phong kiến áp bức thuở xưa. (Ảnh: Sưu tầm)

Vào dịp Tết cổ truyền, tranh Đông Hồ từng là vật trang trí không thể thiếu trong mỗi nhà Bắc Bộ. Treo tranh lên tường không chỉ để làm đẹp mà còn mong cầu may mắn, phú quý, sức khỏe trong năm mới.

Vinh Hoa – Phú Quý là cặp tranh nổi tiếng của dòng tranh Đông Hồ. Miêu tả hai em bé ôm gà vịt, tranh được coi như lời chúc tụng mưu cầu vinh hoa, tài lộc, mong muốn gia đình có một cuộc sống ấm no, giàu sang. (Ảnh: Sưu tầm)

Ngày nay, dù xã hội hiện đại, tranh Đông Hồ vẫn giữ được giá trị của mình. Không chỉ là di sản dân gian, tranh còn trở thành nguồn cảm hứng cho thiết kế hiện đại trong tranh vẽ, thời trang, nội thất, đồ lưu niệm… Nhờ thế, tranh truyền thống được lan tỏa rộng rãi hơn, đồng thời giúp giữ gìn bản sắc văn hóa Việt.


Đọc thêm: Tranh Đông Hồ: Hồn Việt trong từng nét chạm

Tranh Đông Hồ là minh chứng sống cho trí tuệ, thẩm mỹ và linh hồn của cư dân Bắc Bộ Việt Nam từ những khối gỗ, tờ giấy dó, vạt màu tự nhiên đến từng nét in; từ bức tranh đơn giản treo ở nhà dân đến di sản văn hóa cần được bảo tồn. Giữa nhịp sống hiện đại, việc giữ lại, trân trọng và lan tỏa tranh Đông Hồ không chỉ là bảo tồn nghệ thuật mà là bảo tồn ký ức, bản sắc và linh hồn của dân tộc.

Contact Us

Contact Us

Messenger

Messenger

Facebook

Facebook

Back to top

Back to top

Phát triển bởi tempi | Đăng ký Hoặc Gia hạn để nhận ngay ưu đãi lên đến 50%