Giấy Dó Việt Nam là một di sản thủ công truyền thống quý báu, mang trong mình sức sống bền bỉ qua hàng ngàn năm lịch sử, nơi lòng yêu nghề của người thợ đã tạo ra chất liệu xốp nhẹ, bền dai cho người chép thơ và vẽ tranh. Nghề làm giấy này cần được khôi phục và bảo tồn để kết nối nghệ thuật truyền thống và đương đại.
Nghề làm giấy thủ công tại Việt Nam là một trong những ngành nghề cha truyền con nối lâu đời nhất, mà giấy Dó là sản phẩm tiêu biểu, mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc. Từ những câu ca dao mộc mạc thể hiện lòng yêu nghề của người thợ, ta thấy được giá trị tinh thần và sự bền vững của nghề này.
Mặc dù việc xác định chính xác thời điểm xuất hiện nghề làm giấy lần đầu tiên ở Việt Nam vẫn là một câu hỏi lớn đối với các nhà nghiên cứu, sử sách ghi chép và khảo cứu của các học giả lớn như Lê Quý Đôn (thế kỷ XVIII) cho thấy nghề này có thể đã ra đời từ thế kỷ thứ III sau CN. Khi ấy, người Việt đã biết dùng vỏ cây dó và vỏ cây thượng lục để chế tạo giấy. Đến đầu thế kỷ XVII, nghề làm giấy đã phát triển khá rộng rãi ở nhiều địa phương, đặc biệt tại các trấn thuộc vùng thượng du và trung du Bắc Bộ.
Ngày nay, giấy Dó và giấy bản vẫn còn cần cho xã hội, không chỉ dùng để in tranh Đông Hồ, lưu giữ tài liệu, mà còn phục vụ các nhu cầu sinh hoạt hiện đại như bao gói hay xuất khẩu.
Tranh đông Hồ được vẽ từ Giấy dó (Ảnh sưu tầm)
Sự độc đáo của giấy Dó nằm ở nguyên liệu và công nghệ thủ công truyền thống phức tạp, đòi hỏi sự kỳ công và kinh nghiệm của người thợ.
Nguyên liệu chính là vỏ cây dó, loại cây dễ trồng và mau lớn, được phân loại từ phần gốc, thân chính đến phần ngọn để tạo ra bột xơ giấy có chất lượng khác nhau. Quy trình sản xuất giấy Dó trải qua nhiều công đoạn vất vả:
Ngâm và Nấu vỏ Dó: Vỏ cây dó được ngâm trong nước vôi khoảng ba tháng, sau đó nấu cách thủy khoảng 3 ngày 2 đêm cho đến khi vỏ chín nhừ.
Vỏ cây Dó, nguyên liệu chính làm ra giấy Dó (Ảnh sưu tầm)
Giã Bột: Phần vỏ được bóc bỏ lớp vỏ đen rồi giã bằng cối và chày cho đến khi thành dạng bột nhuyễn.
.Xeo Giấy: Bột dó sau khi lọc kỹ sẽ được hòa trong nước theo tỷ lệ nhất định tạo thành huyền phù trong bể xeo giấy. Người thợ dùng khuôn xeo có trải tấm liềm xeo (bằng mành trúc hoặc đồng) để chao đi chao lại trong bể. Lớp bột lắng trên liềm chính là tờ giấy ướt.
Ép và Phơi: Chồng giấy ướt sau đó được ép kiệt nước bằng bàn ép chuyên dụng. Giấy được phơi dưới nắng trời hoặc sấy trên lò sấy theo nguyên tắc khô từ từ để đảm bảo độ xốp và trắng sáng.
Công đoạn phơi giấy gió (Ảnh sưu tầm)
Chính công nghệ thủ công này đã tạo ra đặc tính xốp nhẹ, bền dai nổi trội của giấy Dó, mà công nghệ hiện đại khó lòng bắt chước được.
Giấy Dó không chỉ có độ bền vượt trội với tuổi thọ lên tới hơn 500 năm (được chứng minh qua các bản sắc phong cổ còn lưu giữ), mà còn gắn liền với sự phồn thịnh của nhiều làng nghề truyền thống nổi tiếng.
Giấy Sắc Nghĩa Đô: Nổi tiếng với giấy sắc dùng cho triều đình, làm từ dó lụa, nhuộm màu vàng từ hoa hòe, vẽ rồng mây và Tứ Linh bằng vàng bạc kim nhũ. Đây là loại giấy đặc biệt quý hiếm, hình thức và màu sắc rất đẹp.
Làng nghề Giấy Dó Yên Thái: Tức làng Bưởi, ở phía Tây Bắc Thủ đô Hà Nội, có nghề làm giấy từ thế kỷ XV. Yên Thái nổi tiếng với các loại giấy thị và giấy lệnh dùng trong cung đình. Câu ca dao Nhịp chày Yên Thái, mặt gương Tây Hồ đã khắc họa sự nhộn nhịp của làng nghề này.
Du khách trải nghiệm quy trình làm giấy truyền thống tại Làng nghề giấy Dó Yên Thái (Ảnh sưu tầm)
Làng nghề Giấy Phong Khê: Thuộc Bắc Ninh, nổi tiếng với giấy dó dùng để in tranh Đông Hồ, viết chữ Nho, và làm vàng mã. Ngày nay, Phong Khê còn sản xuất các loại giấy phục vụ nhu cầu hiện đại.
Sự tồn tại của các làng nghề và việc thờ phụng Tổ nghề cho thấy giá trị lịch sử và văn hóa sâu sắc của nghề làm giấy Dó đối với người Việt.
Trước sự phát triển của công nghiệp giấy hiện đại, nghề làm giấy Dó truyền thống đang đối mặt với nhiều thách thức. Tuy nhiên, giấy Dó mang trong mình vẻ đẹp bền bỉ, mộc mạc và gắn liền với văn hóa truyền thống cần được bảo tồn.
Việc khôi phục và bảo tồn nghề làm giấy Dó là rất cần thiết để giữ lại nét đặc sắc mang đậm giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc. Giấy Dó phải được phổ biến rộng rãi hơn, không chỉ trong lĩnh vực lưu trữ cổ vật mà còn tạo thành cầu nối giữa nghệ thuật đương đại và nghệ thuật truyền thống của Việt Nam. Đó là cách tốt nhất để tri ân những người thợ đã gìn giữ hồn cốt của di sản này qua hàng nghìn năm lịch sử.
Trải nghiệm viết trên giấy Dó trong dự án phục dựng làng nghề giấy nàycủa phường Bưởi, quận Tây Hồ (Ảnh sưu tầm)
Giấy Dó không đơn thuần là một vật liệu xốp nhẹ, bền dai, mà là chứng nhân lịch sử, là nơi lưu giữ hồn cốt dân tộc qua từng thớ xơ bền bỉ. Giữa nhịp sống hối hả của công nghiệp hiện đại, việc gìn giữ và khôi phục nghề làm giấy Dó chính là cách chúng ta trân trọng quá khứ, tri ân công sức của những người thợ thủ công đã giữ lửa nghề qua hàng nghìn năm. Hy vọng rằng, qua bàn tay tài hoa của các nghệ nhân đương đại và sự sáng tạo của thế hệ trẻ, "tờ giấy 500 năm tuổi" sẽ tiếp tục viết nên những câu chuyện văn hóa mới trong dòng chảy phát triển của đất nước.