Trang được xây dựng trên tempi - nền tảng xây dựng Website & Landing Page chuyên nghiệpSử dụng miễn phí ngay
0

Trong kho tàng văn hoá Việt, có những hình ảnh tuy mộc mạc nhưng lại khắc sâu trong tâm trí mỗi người dân - đó chính là nón lá và quạt giấy. Bên cạnh những lợi ích trong đời sống thường nhật, chúng còn là những biểu tượng đặc trưng cho văn hoá Việt Nam. Hãy cùng Inside Viet Nam khám phá ngay trong bài viết dưới đây.

Giới thiệu về nón lá và quạt trong văn hoá Việt

Nguồn gốc và lịch sử hình thành

Không khó để bắt gặp hình ảnh người phụ nữ đội nón lá, hay con người nước Nam tay cầm chiếc quạt giấy. Đây là những vật dụng gắn bó mật thiết với đời sống lao động, sinh hoạt và cả nghệ thuật Việt Nam. 

Hoạt động trải nghiệm với quà tặng quạt giấy và nón lá của Viettel khiến nhiều du khách hứng thú.

(Nguồn: Kenh14)

Lịch sử chiếc nón lá

Tương truyền rằng, chiếc nón lá đã ra đời từ những năm 2500 - 3000 trước công nguyên, được tạo thành từ những nguyên vật liệu hết sức thô sơ. Nón lá xưa có vành rộng, được kết hình tròn, sau đó dần xuất hiện những loại nón như nón quai thao, nón chóp. Nón quai thao thường đi kèm với áo tứ thân, tạo thành y phục quan họ Kinh Bắc. Nón có kích thước khá lớn, đường kính ước chừng 70 - 80cm; giữa nón gắn một vành tròn vừa đầu, có hình dạng như nắp tráp. Trong khi đó, nón chóp mang dáng hình chóp nhọn, được tạo hình khéo léo trong từng công đoạn: từ chọn khung, uốn vành đến lợp lá,...

Hình ảnh nón lá đã trở nên quen thuộc trong cuộc sống người dân. (Sưu tầm)

Mang nhiều hình thái đa dạng và phong phú, nón lá không chỉ gắn liền với đời sống bình dị mà đã đi vào đời sống tinh thần, trở thành hình ảnh gắn liền với văn hoá đất nước. Nhắc đến Việt Nam, người ta không thể không nhắc đến nón lá và công nhận giá trị, ý nghĩa của nó.

Hành trình chiếc quạt Việt 

Ở nước ta, quạt đã xuất hiện từ thời xa xưa. Nhà bác học Lê Quý Đơn trong tác phẩm “Vân đài loại ngữ” cho rằng: trước kia, người Việt dùng quạt bằng lông chim và quạt lá cọ, đến khoảng thế kỷ X thì quạt giấy xếp xuất hiện. Một số thư tịch cổ ghi chép lại rằng, thời vua Trần Dụ Tông vào thế kỷ XIV đã sai người làm quạt giấy bán lấy tiền. Thời giặc Minh chiếm đóng, dân ta phải làm và dâng cống các loại quạt cho chúng. Trong khi đó, ở nông thôn, quạt mo là loại quạt phổ biến nhất. Người ta lấy mo cau mới rụng cắt thành hình quạt, sau đó phơi khô và ép phẳng để sử dụng.

Đầu thế kỷ XVIII, những loại quạt chất lượng cao dần ra ra đời. Quạt dùng nan tre được gọi là Ban trúc phiến, trong khi đó quạt dùng nan gỗ mơ già được gọi là Lão mai phiến. Quạt giấy được làm bằng giấy gió loại tốt, nan làm bằng ngọc hoặc sừng, ngà, thường được tô vẽ phong cảnh núi non. Quạt lụa sử dụng lụa thay cho giấy, thường dùng cho nữ giới. Các tầng lớp thượng lưu sử dụng các chất liệu quý như ngà voi, sừng tê, được điểm xuyết tinh xảo để không chỉ dùng quạt mát mà còn có thể làm vật trang trí cầm tay nhằm tăng thêm sự thanh lịch, quý phái.

Ý nghĩa biểu tượng của nón lá và quạt giấy

Trong đời sống thường nhật và đời sống tinh thần

Dù không phải là những vật phẩm đắt tiền, nón lá và quạt giấy lại gắn liền với tâm hồn đơn sơ, giản dị của con người truyền thống. Với người nông dân, nón lá là vật dụng được sử dụng hàng ngày để che mưa che nắng, đôi khi được ứng dụng để đựng đồ vật. Không chỉ vậy, nón lá còn có ý nghĩa đặc biệt trong quan niệm đạo đức  - tín ngưỡng của người Việt ta. Chiếc nón lá có tổng cộng 16 vành tre, tượng trưng cho quan niệm “nam thất nữ cửu”, tức người nam có “thất khiếu” (7 lỗ thoát khí) và người nữ có “cửu khiếu” (9 lỗ thoát khí) để duy trì thân thể. Ngoài ra, quan niệm nêu trên còn đại diện cho tín ngưỡng thờ Cửu Huyền Thất Tổ, tưởng nhớ đến ông bà, tổ tiên.

Trong khi đó, quạt giấy lại được sử dụng để quạt mát, xua đi cái nóng oi ả của khí trời. Quạt giấy được sử dụng rộng rãi trong các gia đình, từ người nông dân ngoài đồng ruộng, người buôn bán nơi chợ quê cho đến các cụ già thong thả ngồi bên hiên ngà. Sự tiện lợi, giản dị đã khiến chiếc quạt giấy trở thành người bạn đồng hành không thể thiếu trong đời sống thường nhật.

Trong nghệ thuật và lễ hội

Nếu chiếc quạt giấy mang đến sự duyên dáng, nền nã thì nón lá lại là biểu tượng mộc mạc, thanh khiết, gắn liền với hình ảnh người phụ nữ Việt Nam. Trong nghệ thuật, nón lá không chỉ là đạo cụ mà còn trở thành linh hồn của nhiều loại hình biểu diễn. Từ múa nón Huế với những động tác mềm mại, uyển chuyển, cho đến những điệu dân ca quan họ, chèo, cải lương, nón lá xuất hiện như một nhịp cầu đưa người xem hòa vào vẻ đẹp tinh tế của văn hóa dân gian. Dáng nón nghiêng che nửa khuôn mặt người con gái đã đi vào thơ ca, hội họa, âm nhạc như một biểu tượng của sự kín đáo, dịu dàng, gợi nhớ vẻ đẹp “thướt tha, e ấp” của người Việt.

Tiết mục múa nón lá đến từ Đoàn ca múa nhạc nghệ thuật quân đội. (Sưu tầm)

Bên cạnh nón lá, quạt giấy còn mang ý nghĩa tinh thần sâu sắc. Trong văn hóa nghệ thuật, quạt giấy xuất hiện trong những điệu múa truyền thống, trong sân khấu tuồng chèo, cải lương, vừa là đạo cụ biểu diễn vừa là biểu tượng cho sự uyển chuyển, duyên dáng. Đặc biệt, chiếc quạt còn đi vào thơ ca, nhạc họa như một hình ảnh gợi tả sự nền nã, kín đáo mà tinh tế của con người Việt Nam. Với giới trí thức xưa, quạt giấy còn là “trang giấy nhỏ” để đề thơ, ghi chép, thể hiện tâm tình, biến vật dụng đời thường thành tác phẩm nghệ thuật.

Quạt giấy trở thành một đạo cụ không thể thiếu cho các sân khấu cố truyền. (Sưu tầm)

Bên cạnh nón lá, quạt giấy còn mang ý nghĩa tinh thần sâu sắc. Trong văn hóa nghệ thuật, quạt giấy xuất hiện trong những điệu múa truyền thống, trong sân khấu tuồng chèo, cải lương, vừa là đạo cụ biểu diễn vừa là biểu tượng cho sự uyển chuyển, duyên dáng. Đặc biệt, chiếc quạt còn đi vào thơ ca, nhạc họa như một hình ảnh gợi tả sự nền nã, kín đáo mà tinh tế của con người Việt Nam. Với giới trí thức xưa, quạt giấy còn là “trang giấy nhỏ” để đề thơ, ghi chép, thể hiện tâm tình, biến vật dụng đời thường thành tác phẩm nghệ thuật.

Bảo tồn và phát huy giá trị truyền thống của quạt và nón lá

Ngày nay, các làng nghề làm nón lá và quạt truyền thống vẫn còn tồn tại, trở thành nơi lưu giữ tinh hoa văn hóa và kỹ thuật thủ công của cha ông. Những cái tên như làng nón Phủ Cam (Huế), làng nón Tây Hồ (Quảng Bình), làng quạt Chàng Sơn (Hà Nội) đã trở thành địa chỉ quen thuộc, không chỉ với người Việt mà còn thu hút đông đảo du khách quốc tế tìm đến trải nghiệm. Các nghệ nhân làng nghề vẫn ngày ngày tỉ mỉ chọn từng nan tre, sợi lá, uốn từng đường khung, ghép từng lớp lá, dán từng tờ giấy để tạo nên những sản phẩm vừa bền chắc vừa mang giá trị nghệ thuật. 

Trong bối cảnh hiện đại, việc bảo tồn những giá trị này càng trở nên quan trọng. Nhiều địa phương đã gắn phát triển làng nghề với du lịch văn hóa - trải nghiệm, vừa tạo sinh kế cho người dân, vừa quảng bá hình ảnh Việt Nam ra thế giới. Các lễ hội, triển lãm, festival văn hóa cũng thường xuyên tôn vinh nón lá và quạt, biến chúng thành biểu tượng nhận diện bản sắc Việt trên trường quốc tế. Ngoài ra, nón lá và quạt giấy được thiết kế độc đáo hơn trước, tạo nên những phương thức mới để người trẻ tiếp cận với sản phẩm truyền thống.

Sự kết hợp giữa truyền thống và hiện đại - từ việc sử dụng nón lá, quạt trong thời trang, trình diễn nghệ thuật, đến việc sáng tạo sản phẩm lưu niệm độc đáo - chính là con đường để phát huy giá trị truyền thống một cách bền vững, giúp những di sản bình dị này tiếp tục sống trong đời sống đương đại và được truyền lại cho mai sau.

Contact Us

Contact Us

Messenger

Messenger

Facebook

Facebook

Back to top

Back to top

Phát triển bởi tempi | Đăng ký Hoặc Gia hạn để nhận ngay ưu đãi lên đến 50%