Nghề dệt chiếu cói là một trong những nghề thủ công lâu đời ở Việt Nam, sinh ra từ bãi bồi phù sa ven sông và lớn lên cùng nếp sống làng quê. Từ cây cói giản dị, người thợ dệt tạo nên những tấm chiếu bền đẹp, mang đậm hồn quê. Qua các làng nghề như Hới, Định Yên, Kim Bồng, nghề chiếu không chỉ giúp người dân mưu sinh mà còn góp phần bảo tồn văn hóa truyền thống độc đáo.
Ở Việt Nam nghề dệt chiếu thủ công truyền thống vốn có từ rất lâu đời và chưa có ai biết nghề chiếu xuất hiện từ bao giờ, cũng như Tổ nghề thật sự là ai. Theo truyền thuyết, vào thời Tiền Lê – Lý (thế kỷ X-XI), ở làng Hới, xã Tân Lễ, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình đã bắt đầu dệt chiếu, rồi phát triển mạnh vào thời Hậu Lê (thế kỷ XV).
Nghề dệt chiếu Hới thịnh đạt lúc bấy giờ là nhờ công lao của Trạng nguyên Phạm Đôn Lễ (1457 – ?) – Ông người làng Hải Triều, huyện Ngự Thiêm, phủ Tân Hưng (nay là huyện Hưng Hà), tỉnh Thái Bình. Khi ông lớn lên, làng Hới đã có nghề dệt chiếu từ lâu. Nhưng chiếu dệt khung đứng, không có ngựa đỡ sợi nên chiếu không đẹp. Khi đi sứ sang Trung Quốc, qua vùng Ngọc Hà, Châu Quế Lâm, tỉnh Quảng Tây, Phạm Đôn Lễ đã tìm hiểu và học được bí quyết kỹ thuật dệt chiếu của người Trung Quốc. Đó là kỹ thuật dệt khung nằm, có ngựa đỡ sợi dọc, làm cho sợi đay căng, chao cói nhanh hơn và chiếu đẹp hơn.
Ông đã phổ biến kinh nghiệm và kỹ thuật dệt mới cho nhân dân. Ông cho cải tiến khung dệt. Nhờ vậy, chiếu Hới đẹp hơn và nổi tiếng từ đó. Dân làng tôn ông là ông Tổ nghề dệt chiếu, gọi ông là “Trạng Chiếu” và lập đền thờ sau khi ông mất- đền thờ Phạm Trạng Nguyên. Rồi từ làng Hới, nghề dệt chiếu truyền thống được phát triển ra cả nước trải dài từ Bắc vào Nam.
Chiếu cói có thể nói là 1 trong những biểu tượng khi nhắc đến Việt Nam. Hãy cùng tìm hiểu qua nét đẹp lâu bền này thôi nào (Ảnh: chieutruc.info)
Chiếu cói không chỉ là vật dùng sinh hoạt mà còn mang đậm tính biểu tượng. Trong nếp nhà Việt, chiếu là vật thân thuộc đến mức đi vào tục ngữ, ca dao, điển tích – thể hiện sự bình dị, gần gũi và tinh tế của văn hoá lúa nước. Chính sự mộc mạc nhưng bền bỉ ấy đã giúp nghề dệt chiếu tồn tại qua nhiều biến động của thời gian và vẫn giữ vị trí quan trọng trong đời sống.
Quy trình làm ra một tấm chiếu cói trải qua nhiều công đoạn tỉ mỉ. Đầu tiên là trồng và thu hoạch cói, thường diễn ra ở các vùng đất ẩm ven sông như Thái Bình, Đồng Tháp, Quảng Nam, Bình Định. Cói được cắt, bó, phơi khô hoặc ủ ẩm tùy theo kỹ thuật từng địa phương. Sau đó, cói được chẻ, xé và làm mềm để sợi dẻo và đều.
Khai thác nguyên liệu cói truyền thống (Ảnh: chieutruc.info)
Công đoạn tiếp theo là nhuộm và xử lý màu, tạo nên sắc trắng ngà tự nhiên hoặc các màu nổi bật cho chiếu hoa. Người thợ dùng thuốc nhuộm thực vật hoặc hóa chất nhẹ, phơi nhiều lần để giữ màu bền và sắc nét. Khi các sợi đã hoàn chỉnh, người thợ bắt tay vào dệt chiếu bằng khung gỗ hoặc khung máy bán thủ công. Từng đường thoi, từng mũi dập được thực hiện đều đặn, tạo nên mặt chiếu chặt, phẳng và chắc. Cuối cùng là khâu viền, ép mặt chiếu để tấm chiếu đạt độ bền và tính thẩm mỹ. Dù quy trình tưởng như giản đơn, nhưng mỗi tấm chiếu thành phẩm là kết tinh của sự khéo léo, kinh nghiệm và trí sáng tạo của người thợ thủ công.
Cơ sở đan chiếu cói truyền thống Việt Nam (Ảnh: chieutruc.info)
Làng chiếu Định Yên là một trong những làng nghề dệt chiếu ở Việt Nam đã được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, có lịch sử hình thành và phát triển hơn 100 năm. Làng chiếu này nằm ngay bên bờ sông Hậu thuộc xã Định Yên, huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp. Từ trung tâm thành phố đến đây hơn 40 km.
Ở Đồng Tháp có làng chiếu Định Yên nổi tiếng lâu đời. (Ảnh: Thám hiểm Mê Kông)
Để trở thành một làng chiếu nổi tiếng khắp nơi như ngày nay, chiếu Định Yên được sản xuất rất công phu qua nhiều công đoạn. Từ việc phơi lát, nhuộm màu cho đến dệt chiếu để cẩn thận, tỉ mẩn. Do đó mà sản phẩm chiếu ở làng nghề này có hoa văn sắc nét và độ bền cao khi sử dụng.
Hàng trăm năm trôi qua, nghề làm chiếu ở Cẩm Nê đã phần nào mai một. Ngày nay chỉ còn một số hộ gia đình gìn giữ nghề dệt chiếu truyền thống. Tuy nhiên chất lượng và giá trị của chiếu vẫn trọn vẹn như thuở xa xưa, vẫn bền đẹp và mang những ý nghĩa văn hóa tốt đẹp của chiếu Việt Nam.
Đà Nẵng có làng chiếu Cẩm Nê, sản xuất đa dạng các loại chiếu. (Ảnh: danangsensetravel)
Ở làng Cẩm Nê, chiếu trơn được dệt từ nguyên liệu lác phơi khô, màu hơi ửng xanh. Chiếu sau khi dệt sẽ tiếp tục đem phơi để sáng bóng, đẹp mắt. Với chiếu có màu, người dân sẽ nhuộm màu vào sợi lác như đỏ, xanh, vàng,… rồi đem phơi, sau đó mới đem dệt. Nhờ vậy mà chiếu lên màu đẹp hơn, sang trọng hơn.
Người dân ở xã Tân Lễ, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình. Từ trung tâm thành phố đến đây khoảng hơn 40 km. Đến đây, du khách sẽ có dịp đi qua những cánh đồng lúa mênh mông trước khi bước vào ngôi làng có khoảng 80% hộ dân đều làm nghề dệt chiếu. Ở làng chiếu Hới có rất nhiều loại chiếu như chiếu trơn, chiếu cài hoa, chiếu đậu, chiếu đót, chiếu sợi xe,… rất đa dạng chủng loại.
Làng chiếu Hới hình thành từ thời Hậu Lê, có tuổi đời hàng trăm năm. (Ảnh: VOV)
Người dân làng Hới sử dụng sợi cói và sợi đay để dệt chiếu. Đay và cói sau khi được thu hoạch sẽ được tuyển lựa kỹ, đem phơi và một số công đoạn cần thiết để tiến hành dệt chiếu. Tùy loại chiếu cụ thể mà sợi sẽ được đem nhuộm màu phù hợp, tạo nên sản phẩm chiếu đẹp và chất lượng.
Đọc thêm: Có một làng nghề chiếu cói 200 năm tuổi
Nghề dệt chiếu cói, từ những bãi bồi ven sông đến những làng nghề trăm tuổi, không chỉ tạo ra vật dụng quen thuộc của nếp nhà Việt mà còn lưu giữ một phần hồn cốt văn hóa dân tộc. Mỗi tấm chiếu là kết tinh của đất, nước và bàn tay khéo léo, là dấu ấn của lao động bền bỉ và sự sáng tạo không ngừng của người thợ. Dù đứng trước những thay đổi của thời đại, nghề dệt chiếu vẫn đang được gìn giữ và làm mới thông qua các làng nghề truyền thống, các mô hình du lịch trải nghiệm và sự quan tâm của cộng đồng. Việc bảo tồn và phát triển nghề không chỉ giúp gìn giữ một di sản thủ công quý giá mà còn góp phần nuôi dưỡng bản sắc Việt trong đời sống đương đại.