Mỗi độ xuân về, khi sắc đào nở rộ khắp đồng bằng Bắc Bộ, người dân Đông Anh lại nô nức hướng về Cổ Loa – kinh đô cổ của nước Âu Lạc xưa. Lễ hội Cổ Loa không chỉ là dịp tưởng nhớ công đức An Dương Vương mà còn là hành trình trở về cội nguồn, nơi những truyền thuyết về nỏ thần, Mỵ Châu – Trọng Thủy vẫn vang vọng giữa lòng thành cổ hơn hai nghìn năm tuổi.
Trên mảnh đất hơn hai nghìn năm lịch sử, thành Cổ Loa (huyện Đông Anh, Hà Nội) là minh chứng sống động cho thời kỳ dựng nước Âu Lạc dưới triều An Dương Vương. Vua Thục Phán đã dời đô từ Phong Châu (Phú Thọ) về Cổ Loa – vùng đất cao ráo, địa thế hiểm yếu được bao quanh bởi sông Hoàng, sông Thiếp và hệ thống ngòi ngách nổi ra sông Hồng, tạo nên trung tâm kinh đô đầu tiên của dân tộc Việt cổ. Vua An Dương Vương được Thần Kim Quy giúp xây thành, tặng móng rùa làm nỏ thần để giữ nước. Nhưng do Mỵ Châu cả tin, bí mật quốc gia bị lộ khiến thành thất thủ, nhà nước Âu Lạc sụp đổ. Những câu chuyện ấy, dù đan xen giữa lịch sử và huyền thoại, vẫn gợi nhắc về thời kỳ hào hùng và bi tráng của dân tộc.
Lễ hội Cổ Loa (Ảnh: Sưu tầm)
Theo truyền thuyết, ngày mùng 6 tháng Giêng là ngày vua An Dương Vương nhập cung, còn mùng 9 là ngày lên ngôi và khao thưởng quân sĩ. Từ đó, người dân Cổ Loa và các làng trong vùng đã lấy mùng 6 tháng Giêng làm ngày mở hội. Lễ hội được tổ chức hằng năm từ mùng 6 đến 18 tháng Giêng, do nhân dân tám làng: Ðài Bi, Sằn Giã, Cầu Cả, Mạch Tràng, Văn Thượng, Thư Cưu, Cổ Loa, Xép cùng chung tay thực hiện. Mỗi làng đều có ngày hội riêng, tạo nên chuỗi hoạt động kéo dài suốt nửa tháng đầu xuân, phản ánh tinh thần cố kết cộng đồng và lòng biết ơn vị vua lập quốc.
Trọng tâm của lễ hội là phần lễ rước và tế thần tại đền Thượng. Từ sáng sớm mùng 6, các đoàn rước với cờ quạt, tán lọng, kiệu vàng, nhạc phường bát âm hòa vang khắp nẻo đường làng.
Lễ rước kiệu là nghi thức mở màn trang trọng nhất. Dẫn đầu đoàn rước là đội cờ quạt, tàn lọng rực rỡ sắc đỏ, kế đến là chủ tế trong áo thụng xanh, đội mũ tế, tay cầm bản văn. Người khiêng kiệu được tuyển chọn kỹ lưỡng, phải là trai đinh khỏe mạnh, có đạo đức tốt, trước lễ phải chay tịnh, giữ mình trong sạch. Họ bước đều, chậm rãi trong tiếng trống, tiếng chiêng và nhạc phường bát âm ngân vang. Khi đoàn rước đi qua, dân làng hai bên đường nghiêng mình vái vọng, khói hương lan tỏa trong không khí mùa xuân mới.
Nghi lễ rước kiệu trong lễ hội (Ảnh: Sưu tầm)
Đoàn rước đi từ các làng lân cận tiến về đền Thượng, qua cổng thành, giếng Ngọc – nơi gắn với truyền thuyết Mỵ Châu, Trọng Thủy – rồi dừng lại làm lễ dâng hương. Hai bên sân đền, ngựa hồng, ngựa bạch bằng gỗ được đặt sẵn như biểu tượng của sự trung nghĩa và thành kính. Trên hương án bày các loại vũ khí cổ: nỏ, kiếm, cung tên – gợi nhắc những năm tháng hào hùng chống giặc giữ nước của Âu Lạc. Sau khi kết thúc cuộc tế thì người dân có thể vào làm lễ.
Toàn cảnh phần lễ của lễ hội Cổ Loa trong sân (Ảnh: Sưu tầm)
Sau lễ rước kiệu là lễ rước thần, nghi thức thể hiện sự giao hòa giữa thần linh và con người. Dẫn đầu đoàn là cờ, quạt, long đình và các lộ bát bửu. Phường bát âm tấu nhạc, tiếp theo là hàng quan viên trong áo mũ tế phục, tay nâng bảo vật của vua xưa. Chính giữa là long đình uy nghi đặt bài vị Đức vua An Dương Vương.
Đoàn rước đi quanh giếng Ngọc, men theo đường thành Nội đến đình Ngự Triều, nơi tiếp tục nghi lễ tế thần. Mỗi bước đi được điều khiển theo nhịp trống, tiếng chiêng, tiếng nhạc rộn ràng mà trang trọng. Khi đoàn rước dừng lại, quan tế cử hành nghi lễ khẩn cáo, đọc chúc văn ca ngợi công đức dựng nước của An Dương Vương, cầu cho quốc thái dân an, mùa màng bội thu, nhân khang vật thịnh.
Sau lễ chính, các làng trong Bát xã lần lượt rước kiệu về đình làng mình để tiếp tục phần tế lễ riêng. Từ ngày mùng 8 đến 18 tháng Giêng, lần lượt các làng Văn Thượng, Ngoại Sát, Đài Bi, Mạch Tràng, Cầu Cả, Sằn Giã, Thư Cưu tổ chức hội làng, nối dài không khí linh thiêng, rộn ràng khắp vùng Cổ Loa.
Sau phần lễ trang nghiêm là phần hội rộn ràng, phản ánh đời sống tinh thần phong phú của cư dân vùng châu thổ Bắc Bộ. Nổi bật là các hoạt động nghệ thuật dân gian như múa rối nước, hát quan họ bên giếng Ngọc, cùng vở tuồng Mỵ Châu – Trọng Thủy được tái hiện như một thông điệp về bài học cảnh giác và lòng trung hiếu. Phần hội còn có nhiều trò chơi truyền thống như cờ người, đấu vật, bắn nỏ, thu hút đông đảo người dân và du khách tham gia. Đặc biệt, trò bắn nỏ – biểu tượng gắn với huyền thoại nỏ thần – luôn là điểm nhấn, gợi nhớ đến tài năng quân sự của An Dương Vương.
Lễ hội thu hút đông đảo người dân tham gia (Ảnh: Sưu tầm)
Từ xa xưa, lễ hội Cổ Loa được tổ chức đều đặn ba năm một lần và là dịp để dân làng tưởng nhớ công đức An Dương Vương và cùng nhau cầu cho một năm an lành, thịnh vượng. Trải qua thời gian, phong tục ấy dần được mở rộng, trở thành ngày hội chung của cả vùng đất Đông Anh.
Đến năm 1990, khi tục "Bát xã hội nhi" được khôi phục, lễ hội Cổ Loa mang một diện mạo mới – vừa giữ trọn nét linh thiêng của lễ nghi truyền thống, vừa lan tỏa sức sống của một sự kiện văn hóa trọng điểm của Hà Nội. Mỗi độ xuân về, hàng nghìn người dân và du khách thập phương lại nô nức trở về đất Loa Thành, hòa mình trong không khí hội xuân rộn rã.
Ngày nay, lễ hội Cổ Loa không chỉ là nơi thể hiện tín ngưỡng dân gian của người Việt, mà còn được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia – minh chứng cho truyền thống "uống nước nhớ nguồn" ngàn đời. Những nghi lễ trang nghiêm, những điệu hát, trò chơi dân gian hay các màn trình diễn nghệ thuật được bảo tồn, phục dựng và phát huy, góp phần làm rạng rỡ thêm bản sắc văn hóa Thăng Long – Hà Nội.