Nằm bên bờ sông Đáy thuộc huyện Thanh Oai, Hà Nội, làng nón Chuông từ lâu đã được biết đến là cái nôi của chiếc nón lá Việt. Với lịch sử hơn 1000 năm, nơi đây không chỉ lưu giữ nghề thủ công truyền thống mà còn là điểm du lịch văn hoá hấp dẫn, giúp du khách tìm về nét đẹp mộc mạc của làng quê Bắc Bộ.
Làng nón Chuông tọa lạc tại xã Phương Trung, huyện Thanh Oai, cách trung tâm Hà Nội khoảng 30 km. Với diện tích hơn 480 ha, làng gồm 8 thôn dân cư, nổi tiếng với nghề làm nón lá truyền thống đã gắn bó với đời sống người dân qua nhiều thế hệ.
Làng chuông nhìn từ trên cao (Ảnh: Lê Xuân Bách)
Theo lời kể của các bô lão, nghề làm nón Chuông xuất hiện từ khoảng thế kỷ VIII. Ban đầu, làng có tên là Trang Thì Trung, chuyên sản xuất nhiều loại nón khác nhau như nón quai thao, nón lá già ghép sống. Trải qua hàng trăm năm, nghề làm nón được gìn giữ và truyền lại, biến nơi đây thành một trong những làng nghề thủ công nổi tiếng nhất Hà Thành.
Những người thợ nhiều độ tuổi trong làng làm nón (Ảnh: Minh Nghĩa)
Nón làng Chuông nổi tiếng bởi sự tinh xảo trong từng công đoạn. Nguyên liệu chính là lá cọ được nhập từ Quảng Bình, Quảng Trị, kết hợp với nan tre địa phương. Người thợ phải phơi, sấy và xử lý lá cẩn thận để tạo ra màu vàng óng đẹp mắt.
Khung nón gồm 16 vành được đan khéo léo bằng nứa, sau đó lá được khâu tỉ mỉ vào khung bằng chỉ trắng. Một số nón còn được trang trí hoa văn, chỉ màu hoặc gắn quai lụa, làm tăng thêm nét duyên dáng cho người đội.
Những chiếc nón lá làng Chuông đã hoàn thiện (Ảnh: Thùy Linh)
Đọc thêm: Nón lá - một đặc trưng của văn hóa Việt
Điều làm nên sức sống bền lâu của nón làng Chuông chính là giá trị văn hóa mà nó mang theo. Nón không chỉ để che nắng, che mưa mà còn trở thành biểu tượng của sự duyên dáng, thanh lịch của người phụ nữ Việt. Trải qua hơn 300 năm, nón Chuông vẫn hiện diện trong đời sống, trong các lễ hội, và cả trong ký ức của nhiều thế hệ - như một phần “hồn Việt” không thể phai nhạt.
Mỗi chiếc nón Chuông không chỉ là vật dụng thường ngày, mà còn chứa đựng sự khéo léo và tâm huyết của người thợ. Từng đường kim, mũi chỉ, từng lớp lá cọ được chọn lọc kỹ càng, ép phẳng, hong khô dưới nắng đều góp phần tạo nên một tác phẩm thủ công tinh xảo. Chính sự tỉ mỉ ấy đã giúp nón Chuông giữ được nét đẹp bền vững và trở thành niềm tự hào của làng nghề truyền thống Việt Nam.
Nón lá làng Chuông - biểu tượng của sự duyên dáng, thanh lịch (Ảnh: Thùy Linh)
Hàng năm, làng Chuông tổ chức lễ hội lớn nhất vào ngày 10/3 âm lịch, kéo dài trong ba ngày. Đây là dịp để người dân tưởng nhớ tổ nghề và tổ chức nhiều hoạt động văn hóa dân gian đặc sắc như rước lễ, trò chơi truyền thống và biểu diễn nghệ thuật.
Lễ hội tại làng Chuông (Ảnh: Khánh Linh)
Chợ làng Chuông được xem là “linh hồn” của làng nghề. Mỗi tháng có sáu phiên chợ nón, vào các ngày 4, 10, 14, 20, 24 và 30 âm lịch. Tại đây, du khách có thể mua nón lá, nguyên liệu làm nón và tận hưởng không khí nhộn nhịp, đậm chất văn hoá Bắc Bộ.
Phiên chợ nón Chuông đông đúc (Ảnh: Thanh Nga)
Ngoài nghề làm nón, làng Chuông còn sở hữu những công trình kiến trúc cổ như đình làng xây dựng từ năm 1894, mang đậm phong cách triều Nguyễn. Chùa làng cũng là điểm đến hấp dẫn với không gian thanh tịnh, cổ kính, thích hợp cho những ai muốn tìm sự yên bình.
Kiến trúc đình làng Chuông (Ảnh: Sưu tầm)
Từ Hà Nội, du khách có thể đi theo quốc lộ 6 hướng Hòa Bình, đến thị trấn Kim Bài rẽ phải khoảng 2 km là tới làng Chuông. Du khách có thể di chuyển bằng xe máy hoặc ô tô, rất thuận tiện cho chuyến đi trong ngày.
Khi đến làng Chuông, bạn đừng quên thưởng thức bánh cuốn và bánh đúc lạc - hai món ăn dân dã nhưng đậm hương vị quê hương, thường được bày bán trong các phiên chợ nón.
Đĩa bánh cuốn làng Chuông (Ảnh: Sưu tầm)
Làng nón Chuông không chỉ là nơi lưu giữ nghề làm nón lá truyền thống hơn 1000 năm mà còn là điểm đến văn hoá hấp dẫn khi du lịch Hà Nội. Ghé thăm làng Chuông, du khách sẽ cảm nhận được không khí làng quê yên bình, chứng kiến những đôi bàn tay tài hoa của người thợ và mang về cho mình một chiếc nón lá - biểu tượng mộc mạc của người Việt.