Bên bờ hồ Trúc Bạch, cái tên Ngũ Xã vang lên như một huyền thoại kim khí của Thăng Long xưa, nơi lửa lò, tiếng búa và khói đồng đã hun đúc nên một nghề thủ công vượt thời gian. Dù trải qua bao thăng trầm, nơi đây vẫn giữ được linh hồn đồng đen, làm sống lại những tượng thờ, chuông chùa và đồ thờ trang nghiêm, như một chứng tích sống về bản sắc, kỹ thuật và văn hoá Hà Nội qua nhiều thế kỷ.
Lịch sử của Ngũ Xã bắt đầu từ thế kỷ XVII, khi triều đình nhà Lê tuyển thợ đúc đồng tài hoa từ năm xã (Đông Mai, Châu Mỹ, Long Thượng, Đào Viên, Điện Tiền, nay thuộc Bắc Ninh & Hưng Yên) đưa về Thăng Long, để lập cơ sở đúc đồng phục vụ hoàng cung. Những nghệ nhân ấy định cư bên hồ Trúc Bạch, kết hợp tạo nên tổ hợp đúc đồng, từ đó hình thành làng nghề mang tên Ngũ Xã (nghĩa là “Năm Xã”).
Lịch sử hình thành lâu đời của làng nghề đúc đồng Ngũ Xã (Ảnh: Sưu tầm Internet)
Trong suốt nhiều thế kỷ, Ngũ Xã được xem là một trong “tứ đại tinh hoa nghề thủ công” của kinh đô: đúc đồng Ngũ Xã, gốm Bát Tràng, dệt Yên Thái, kim hoàn Định Công. Những sản phẩm từ Ngũ Xã từ nồi đồng, khạp, mâm, lư đồng, chuông chùa đến tượng đồng đã lan tỏa khắp miền Bắc, được triều đình, chùa chiền và nhân dân tin dùng.
Nghề đúc đồng tại Ngũ Xã nổi bật với kỹ thuật đúc đồng rỗng một khối (monolithic hollow casting), đòi hỏi kỹ thuật cao và tay nghề điêu luyện. Các công đoạn truyền thống gồm: nấu chảy đồng, đổ đồng vào khuôn, chờ nguội, tháo khuôn, mài dũa, đánh bóng và hoàn thiện, mỗi bước đều cần độ chính xác cao, kỳ công và kiên nhẫn.
Quá trình rót đồng vào khuôn được người thợ thực hiện cẩn thận. (Ảnh: Báo Hà Nội Mới)
Tỉ mỉ chạm khắc từng đường nét tinh xảo cho sản phẩm đồng đúc. (Ảnh: Báo Hà Nội Mới)
Qua nhiều thế kỷ, Ngũ Xã vẫn lưu giữ được bí quyết pha chế hợp kim, lựa chọn khuôn đúc, kỹ thuật đổ và xử lý bề mặt tạo nên độ bền, độ sáng và âm thanh vang của đồng, điều mà các kỹ thuật công nghiệp khó sao chép hoàn toàn.
Hơn 40 năm làm nghề đúc đồng, ông Đinh Văn Bình cho hay: “Các công đoạn sản xuất đồng Ngũ Xã đều được làm thủ công, đòi hỏi người thợ phải có tay nghề cao, sản phẩm làm ra mới bảo đảm chất lượng”. (Ảnh: Báo Hà Nội Mới)
Những sản phẩm nổi tiếng của làng bao gồm: chuông chùa, tượng đồng (như tượng Huyền Thiên Trấn Vũ ở Quán Thánh Temple, hay tượng Amitabha Buddha tại Than Quang Pagoda), lư đồng, đỉnh đồng, đồ thờ… Những tác phẩm này không chỉ có giá trị nghệ thuật mà còn lưu giữ tâm linh, tín ngưỡng dân gian.
Trong hơn 400 năm, Ngũ Xã chịu không ít thử thách: đổi thay xã hội, công nghiệp hóa, nhu cầu mới… Nhiều lò đúc đã dừng hoạt động, nhiều gia đình rời nghề. Hiện nay, làng chỉ còn vài gia đình còn duy trì nghề, trong đó nổi bật là gia đình nghệ nhân Bùi Thị Minh và Nguyễn Văn Ứng vẫn giữ lò nung, giữ bí kíp đúc đồng truyền thống. Nhằm hồi sinh nghề, chính quyền Hà Nội đã công nhận đúc đồng Ngũ Xã là nghề truyền thống tiêu biểu, hỗ trợ trưng bày sản phẩm, đẩy mạnh quảng bá, phát triển sản phẩm OCOP.
Ngày nay, bên cạnh các đồ thờ truyền thống, nghệ nhân Ngũ Xã đang thử nghiệm chế tác các sản phẩm trang trí, đồ mỹ nghệ, phù hợp với thị hiếu hiện đại vừa giữ bản sắc kim khí truyền thống, vừa đáp ứng nhu cầu thị trường.
Tuy nhiên, bài toán về truyền nghề cho thế hệ trẻ, giá thành sản phẩm, và lọc nhiễm công nghiệp vẫn là thách thức lớn. Nhiều người cho rằng nếu không có sự quan tâm đúng mức, nghề đúc đồng Ngũ Xã có thể trở thành “chuyện kể cũ”.
Đọc thêm: Tinh hoa làng nghề trên mảnh đất Thăng Long xưa - Hà Nội nay
Làng đúc đồng Ngũ Xã là minh chứng sống động cho dòng chảy văn hoá, nơi kỹ thuật, tín ngưỡng, nghề thủ công và lịch sử hòa quyện; nơi mỗi tiếng búa, mỗi lò nung là tiếng vọng của quá khứ và khát vọng giữ gìn bản sắc. Giữa lòng Hà Nội hiện đại, Ngũ Xã vẫn âm thầm giữ ngọn lửa đồng, nhắc nhớ rằng: thủ công và văn hoá không chỉ là vật chất mà là linh hồn của một dân tộc. Việc bảo tồn, hỗ trợ và lan tỏa nghề đúc đồng không chỉ giữ lại ký ức kim loại mà còn giữ lại chính hồn Việt trong mỗi chuông đồng, mỗi tượng đồng, mỗi hơi lửa nung đỏ.