Văn hoá mặc không chỉ là câu chuyện về cách con người lựa chọn trang phục mà còn là một khía cạnh phản ánh sâu rộng bản sắc, lối sống và hồn cốt dân tộc Việt Nam. Trong từng nếp áo truyền thống, ta thấy được sự giao thoa hài hoà giữa yếu tố thẩm mỹ, điều kiện tự nhiên và phong tục tập quán. Từ đó, bản sắc dân tộc được định hình và tiếp biến qua nhiều thế hệ thông qua những trang phục truyền thống của người Việt.
Nhận diện trang phục truyền thống Việt Nam qua các yếu tố nội sinh và ngoại sinh
Yếu tố nội sinh
Một trong những biểu hiện của văn hoá nằm ở trang phục. Trang phục truyền thống Việt Nam là sản phẩm của sự kết hợp song song giữa hai yếu tố nội sinh và ngoại sinh, tạo nên một diện mạo văn hoá mặc độc đáo qua từng thời kỳ.
Các bạn trẻ diễu hành trong trang phục cổ tại Lễ hội Áo dài Du lịch Hà Nội năm 2023 (Ảnh: Báo Nhân Dân)
Trước hết, yếu tố nội sinh đến từ điều kiện tự nhiên và đời sống nông nghiệp lúa nước của người Việt xưa, phản ánh sự thích ứng với tự nhiên và xã hội trong nghệ thuật tạo trang phục. Khí hậu nhiệt đới, ẩm, gió mùa khiến người Việt ưa chuộng những loại vải nhẹ, thoáng mát, dễ nhuộm. Từ thời Hùng Vương, nghề trồng bông, nuôi tằm, dệt lụa đã phát triển tạo nên vải vóc đặc trưng của bản địa. Ngoài tác dụng che chở cơ thể, trang phục còn thích hợp cho hoạt động lao động, phản ánh sự gắn bó với đồng ruộng và nếp sinh hoạt gắn với làng quê giản dị.
Bên cạnh đó, yếu tố nội sinh còn đến từ lịch sử và tư tưởng trong từng thời kỳ. Ở thời Lý - Trần, bắt nguồn từ truyền thống dựng nước và giữ nước oanh liệt của dân tộc, trang phục truyền thống không tách rời ảnh hưởng từ tinh thần thượng võ Đông A cũng như tinh thần tự lập tự cường của dân tộc. Điều đó thể hiện qua việc không dùng gấm vóc của triều Tống để may lễ phục mà sử dụng các chất liệu vải trong nước, không quy định màu sắc trang phục theo quan điểm Khổng giáo coi trọng chính sắc, mà vẫn dùng các màu gián sắc như màu tía, màu hồng, biếc, lục… để may mặc cho quan các cấp. Sang thời nhà Lê - Nguyễn, dưới sự ảnh hưởng của Nho giáo với tư tưởng đề cao lễ nghi, tôn ti trật tự và sự chuẩn mực, trang phục trong giai đoạn này mang tính khuôn phép, kín đáo, phân biệt rõ ràng theo địa vị xã hội, giới tính và lứa tuổi.
“Ngàn năm áo mũ” làm rõ kiểu dáng và quy chế các loại áo mũ được sử dụng trong cung đình và dân gian Việt Nam trong giai đoạn từ 1009 - 1945, trải dài từ thời Lý tới thời Trần, Lê sơ, Lê Trung Hưng, Tây Sơn và cuối cùng là thời Nguyễn. (Ảnh: Báo Lao Động)
Tham khảo thêm: Trang phục của người Việt qua 1.000 năm thay đổi thế nào?
Yếu tố ngoại sinh
Bên cạnh yếu tố nội sinh, yếu tố ngoại sinh cũng để lại nhiều dấu ấn qua quá trình giao lưu văn hóa với khu vực Đông Nam Á, Trung Quốc và phương Tây. Trải qua gần 1000 năm Bắc thuộc, văn hoá Trung Hoa thấm dần vào đời sống, để lại dấu ấn sâu rộng trong phục trang và văn hoá mặc của người Việt. Ảnh hưởng Hán hoá thể hiện rõ nét trong trang phục cung đình và quan lại, song người Việt không du nhập nguyên bản mà biến đổi chúng thành những đặc trưng phù hợp với bản sắc dân tộc. Từ thế kỷ X đến thế kỷ XV, sự giao thoa với văn hoá Chămpa và văn hoá Ấn Độ đã làm phong phú thêm trang phục Việt bằng những họa tiết và kỹ thuật dệt mới.
Đến thế kỷ XIX, nhà Nguyễn đã chuẩn hoá áo dài ngũ thân, bên cạnh đó là nhiều loại trang phục khác như: áo tấc, áo giao lĩnh, viên lĩnh, áo đối khâm, Nhật Bình,...vừa tiếp biến tinh hoa ngoại lai, vừa khẳng định bản sắc dân tộc. Sang đầu thế kỷ XX, ảnh hưởng từ Pháp dẫn đến sự cải biến lớn trong áo dài nữ giới: dáng ôm sát, tà áo dài, thể hiện sự kết hợp Đông – Tây rõ rệt. Sau năm 1975, toàn cầu hoá đưa trang phục hiện đại lấn át bởi tính ứng dụng nhưng đồng thời cũng khơi dậy nhu cầu bảo tồn. Áo dài và nhiều trang phục truyền thống vẫn hiện diện trong các lễ hội, nghi lễ và sân khấu thời trang, chứng minh sức sống bền bỉ của văn hoá mặc Việt Nam qua nhiều thời kỳ.
Phụ nữ Việt Nam trong trang phục áo dài thập niên 50 - thế kỉ XX (Ảnh: Style Republik)
Văn hoá mặc và dấu ấn đặc trưng trong trang phục truyền thống Việt
Sự đơn giản
Trang phục truyền thống Việt Nam nổi bật với sự giản dị, phản ánh đời sống gắn liền với đồng ruộng và nền văn minh lúa nước. Đây chính là kết quả của hàng nghìn năm phát triển và thích nghi với môi trường tự nhiên và đời sống xã hội của người Việt xưa. Trong đời sống hàng ngày, sự đơn giản trở thành chuẩn mực, là yếu tố tiên quyết chi phối từ cách ăn mặc đến lối sống của người dân Việt Nam.
Một trong những minh chứng rõ nét là chiếc áo tứ thân của phụ nữ Bắc bộ hay chiếc áo bà ba của người dân Nam bộ đều có kiểu dáng suông rộng, vạt áo thả tự nhiên, ít chi tiết cầu kỳ, phù hợp với mọi dáng người, dễ mặc và thuận tiện cho việc lao động đồng áng cũng như sinh hoạt cộng đồng một cách thoải mái. Chính sự đơn giản ấy giúp cho trang phục truyền thống Việt Nam đi sâu vào đời sống thường nhật, phản ánh triết lý sống thực tế và đơn giản của dân cư đất nước nông nghiệp.
Nếu so sánh với các trang phục truyền thống phương Đông khác, chúng ta càng dễ nhận thấy sự khác biệt rõ rệt. Kimono của Nhật Bản hay Hanbok của Hàn Quốc thường có nhiều lớp vải, đòi hỏi sự cầu kỳ, công phu và tỉ mỉ trong may đo và cách thức mặc. Trái lại, bởi đặc thù thiên nhiên và xã hội, áo tứ thân hay áo bà ba của người Việt Nam lại toát lên vẻ dung dị và vô cùng gần gũi.
Hanbok và áo tứ thân
Sự kín đáo
Kín đáo là một nguyên tắc quan trọng trong văn hóa mặc Việt Nam, chịu ảnh hưởng sâu sắc của tư tưởng Nho giáo từ thời xa xưa. Ngoài ra, quan niệm thẩm mỹ Á Đông cũng coi trọng vẻ đẹp e ấp, duyên ngầm. Điều này cũng phù hợp với quan niệm và triết lý sống của người Việt.
Phụ nữ Việt Nam xưa thường mặc nhiều lớp áo: yếm ở trong, bên ngoài là áo tứ thân hoặc áo dài ngũ thân, đi kèm khăn vấn hay nón lá. Văn hoá mặc này thể hiện quan niệm coi trọng lễ nghi, đạo lý và sự đoan trang, nền nã.
Sườn xám Trung Quốc và Áo dài Việt Nam (Ảnh: Việt giải trí, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam)
Nếu sườn xám hiện đại của Trung Quốc là bộ trang phục liền mảnh, ôm sát cơ thể với mục đích tôn lên những đường nét cơ thể nhằm thể hiện nét đẹp duyên dáng, quý phái nhưng cũng không kém phần gợi cảm thì áo dài Việt Nam lại giữ sự cân bằng giữa việc tôn dáng người mặc nhưng vẫn thể hiện được nét đẹp đoan trang, nền nã. Áo dài khéo léo thể hiện những đường nét cơ thể bằng chất liệu mềm, nhẹ hay kiểu dáng xẻ tà hở lườn. Sự kín đáo đã trở thành chuẩn mực thẩm mỹ, đồng thời cũng là biểu hiện của phẩm hạnh và đạo đức truyền thống. Điều này có phần quá khắt khe và gò bó đối với phụ nữ Việt Nam ở các thế kỷ trước, song với văn hoá mặc hiện đại, xã hội đã cởi mở hơn, không còn đặt nặng tính kín đáo một cách cực đoan đối với trang phục của người phụ nữ.
Màu sắc
Màu sắc trong trang phục truyền thống của người Việt thường thay đổi theo đặc trưng vùng miền, nhưng vẫn có đặc điểm chung xuyên suốt qua các thời kỳ là thường được may đo trên nền các gam màu tối. Trong đời sống thường ngày, người nông dân thường mặc quần áo nhuộm chàm, nâu hoặc đen. Đây là những màu dễ nhuộm từ các loại cỏ cây tự nhiên, vừa bền màu, vừa thích hợp lao động đồng áng. Những gam màu trầm này còn biểu thị cho sự chất phác, gắn bó với đất đai, đồng rộng của những người dân ở một đất nước lấy nông nghiệp làm gốc.
Ngược lại, trong cung đình, màu sắc trang phục lại tuân theo quy định nghiêm ngặt. Màu vàng là màu thường thấy nhất ở trang phục của hoàng đế, được dùng cho long bào; đỏ tượng trưng cho cát tường, may mắn, thường xuất hiện trong các dịp lễ hội; xanh, tím hay trắng lại được phân định dành cho các quan lại có quyền lực thấp hơn. Hệ thống màu sắc ấy vừa thể hiện cho quyền lực ở mỗi giai cấp, tầng lớp trong thời kỳ phong kiến, vừa khẳng định tính trật tự xã hội lúc bấy giờ.
Trang phục các tầng lớp khác nhau của nam giới thời Nguyễn (Ảnh: Đại Việt Cổ Phong)
Tham khảo thêm: Nam giới thời nhà Nguyễn xưa phối đồ như thế nào?
So sánh với trang phục của một số quốc gia Đông Á khác, người Nhật ưa những màu sắc tươi sáng, hoa văn cầu kỳ để nhấn mạnh tính nghệ thuật trên những bộ Kimono và Yukata, người Ấn Độ lại thích sự rực rỡ, lấp lánh, phản ánh tính phóng khoáng của những bộ Sari cầu kỳ. Trong khi đó, trang phục Việt Nam lại thiên về gam màu trầm ấm, nhã nhặn, chú trọng vào sự hài hoà và tính ứng dụng trong thực tế. Chính sự tiết chế ấy đã tạo nên phong cách riêng. Màu sắc không chỉ làm đẹp cho trang phục mà còn truyền tải thông điệp về văn hoá, bản sắc dân tộc: sống giản dị, coi trọng sự cân bằng và gắn bó mật thiết với thiên nhiên.
Sự cầu kỳ của Kimono và Sari (Ảnh: MIA.vn, Baraen)
Chất liệu
Chất liệu là yếu tố căn bản nhất để tạo nên bản sắc trong trang phục truyền thống cũng như văn hoá mặc của người Việt Nam. Trong điều kiện khí hậu nóng, ẩm, mưa nhiều, người Việt chuộng những loại vải mỏng nhẹ, thoáng mát, thấm hút tốt và thân thiện với môi trường. Điều này cho thấy sự thích nghi khéo léo với tự nhiên ngay từ những lựa chọn đơn giản nhất.
Cách đây khoảng 4000 năm về trước, dưới thời vua Hùng, nghề trồng bông, nuôi tằm, dệt vải đã sớm hình thành. Vải bông, vải gai, lụa tơ tằm được sử dụng rộng rãi, vừa đáp ứng nhu cầu sinh hoạt hàng ngày, vừa làm chất liệu cho trang phục lễ nghi. Đến thời nhà Lý, nhà Trần, tơ lụa phát triển rực rỡ, trở thành biểu tượng của sự tinh xảo. So với nhung gấm dày dặn của Trung Hoa hay len dạ của phương Tây, chất liệu Việt gắn bó với sự mềm mại, nhẹ nhàng, thích ứng hoàn hảo với điều kiện khí hậu và đời sống nông nghiệp.
Trang phục truyền thống Việt Nam và sự cách tân trong văn hoá mặc
Trong làn sóng hội nhập toàn cầu diễn ra mạnh mẽ, việc giữ gìn những giá trị văn hoá truyền thống, trong đó có trang phục trở thành một thách thức vô cùng lớn. Thời trang hiện đại thường hướng đến sự tiện lợi, phóng khoáng, khiến cho các trang phục truyền thống dần ít xuất hiện trong đời sống thường ngày. Tuy vậy, thay vì để những giá trị ấy bị mai một, nhiều nhà thiết kế trẻ Việt Nam đã tìm cho mình một hướng đi mới: đưa tinh thần truyền thống vào thời trang đương đại.
Nhà thiết kế Hoàng Phương Thảo với bộ sưu tập “Hương” với việc khéo léo lồng ghép hình dáng chữ Nôm cùng những chi tiết quen thuộc như áo yếm, quạt, nút thắt,... gợi nhắc trang phục phụ nữ Việt xưa. Các thiết kế tôn vinh đường cong cơ thể, khắc họa tinh thần trong thơ Hồ Xuân Hương: nữ tính, mạnh mẽ, táo bạo và dám cất tiếng nói riêng.
Bộ sưu tập “Hương” của NTK Hoàng Phương Thảo lấy cảm hứng từ hình dáng của chữ Nôm bên cạnh các chi tiết áo yếm, quạt,...
Nhà thiết kế Dương Minh Anh cũng tìm cảm hứng từ tinh thần Hồ Xuân Hương, nhưng lựa chọn một cách thể hiện khác biệt. Với bộ sưu tập “Đoan trang”, NTK khai thác câu chuyện về khát vọng tự do và sự tự chủ của người phụ nữ, thông qua những thiết kế mang tính ẩn dụ. Các chi tiết “hở mà không hở”, “không hở mà hở” trở thành ngôn ngữ thời trang tinh tế, gợi nhắc đến ranh giới mong manh giữa chuẩn mực và phá cách. Ẩn sau đó là sự chất vấn về những khuôn khổ xã hội từng áp đặt lên phụ nữ. Toàn bộ bộ sưu tập phác họa hình ảnh người phụ nữ vừa dịu dàng vừa quyết liệt, biết gìn giữ nét đẹp truyền thống nhưng cũng dám khẳng định bản ngã một cách tự tin và phóng khoáng.
Bộ sưu tập “Đoan trang” của NTK Dương Minh Anh (Ảnh: London College for Design & Fashion)
Bên cạnh đó, cũng có không ít trường hợp "cải biên quá đà". Một số nhà thiết kế hoặc thương hiệu khi cách tân đã đi quá xa so với giá trị gốc, biến đổi hoàn toàn hình dáng, chi tiết của trang phục, khiến chúng mất đi tinh thần cốt lõi và nét bản sắc vốn có. Khi ấy, thay vì tôn vinh, trang phục truyền thống lại bị "lạ hoá", trở nên xa lạ với chính văn hoá dân tộc mình.
Chính vì vậy, có thể thấy rằng phong cách dân tộc trong thời trang không chỉ là việc tái hiện hình ảnh nguyên bản của những bộ trang phục cổ xưa. Nó là sự kết hợp hài hoà giữa yếu tố dân tộc và ngôn ngữ thời trang hiện đại: giữ lại những chi tiết, màu sắc, chất liệu hay hoa văn còn phù hợp; đồng thời lược bỏ những yếu tố không còn đáp ứng nhu cầu và thẩm mỹ đương thời. Đôi khi, bản sắc dân tộc có thể được gợi nhắc chỉ qua chất liệu tơ lụa, một gam màu nâu trầm, một đường thêu họa tiết hay thậm chí là một món phụ trang nhỏ bé. Chính sự chắt lọc và tinh giản ấy mới giúp "hồn cốt" dân tộc trường tồn trong guồng quay hội nhập.
Trang phục truyền thống Việt Nam không chỉ là lớp vải che chở cơ thể, mà còn là ngôn ngữ văn hoá, phản ánh thẩm mỹ, nhân sinh quan và bản sắc dân tộc. Trải qua những biến thiên lịch sử, từ nội sinh đến ngoại lai, rồi cả làn sóng toàn cầu hoá, áo dài, áo tứ thân, khăn rằn hay yếm đào vẫn hiện diện bền bỉ như biểu tượng của ký ức và bản lĩnh Việt.
Trong bối cảnh thời trang toàn cầu, trang phục truyền thống vừa có cơ hội vươn xa, vừa đối mặt thách thức: làm sao để sáng tạo mà không lai tạp, để cách tân mà vẫn giữ hồn cốt dân tộc. Đây không chỉ là trách nhiệm của nhà thiết kế, mà còn của mỗi người trong việc trân trọng và thực hành văn hoá mặc. Suy cho cùng, văn hoá mặc là di sản sống, luôn chuyển động và thích nghi. Nó mở ra viễn cảnh về một nền thời trang Việt vừa đậm hồn dân tộc, vừa sáng tạo trong dòng chảy toàn cầu, nơi mỗi tấm vải, mỗi nếp áo trở thành lời tự sự về bản sắc Việt hôm nay và mai sau.