Chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử được chia thành ba đợt tấn công liên tiếp với quy mô lớn và cường độ ngày càng gia tăng. Những trận đánh ác liệt, giằng co từng tấc đất đã dần siết chặt vòng vây, làm tan rã hệ thống phòng ngự mạnh nhất của quân Pháp ở Đông Dương. Chiến thắng cuối cùng ngày 7/5/1954 đã tạo bước ngoặt quan trọng, góp phần kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân Việt Nam.
Trận quyết chiến chiến lược tại Điện Biên Phủ bắt đầu vào sáng ngày 13/3/1954. Theo hồi ký của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, đúng 8 giờ sáng, những viên đạn sơn pháo đầu tiên của bộ đội ta bắn xuống sân bay Mường Thanh khiến hai chiếc vận tải cơ Đacôta của quân Pháp vừa hạ cánh lập tức bốc cháy. Đây là những loạt đạn đánh dấu sự mở màn cho chiến dịch kéo dài suốt 55 ngày đêm.
Đại tướng Võ Nguyên Giáp quan sát trận địa trước khi phát lệnh nổ súng mở màn chiến dịch. (Ảnh: Tư liệu TTXVN)
Đến 17 giờ 5 phút cùng ngày, 40 khẩu pháo cỡ nòng 75 đến 120 mm của ta đồng loạt khai hỏa, giáng đòn mạnh mẽ vào hệ thống phòng thủ của cứ điểm Him Lam. Bộ đội ta nhanh chóng xuất kích, mở đầu cho trận đánh then chốt đầu tiên của chiến dịch.
Các vị trí của Pháp trên đồi Him Lam bị quân ta tiêu diệt hoàn toàn vào 23 giờ 30 phút cùng ngày (Ảnh: Tư liệu TTXVN)
Kết thúc đợt tấn công đầu tiên, quân ta đã tiêu diệt và bắt sống hơn 2.000 lính địch, phá hủy 25 máy bay, xóa sổ một trung đoàn, lần lượt làm chủ các cứ điểm Him Lam, Độc Lập và bức hàng Bản Kéo. Hệ thống phòng ngự phía Bắc của tập đoàn cứ điểm bị chọc thủng, tạo bước đà quan trọng cho các đợt tấn công tiếp theo. Trước sức mạnh pháo binh của ta, Pirốt - Tư lệnh pháo binh Pháp tại Điện Biên Phủ - đã tuyệt vọng đến mức dùng lựu đạn tự sát.
Đợt tấn công thứ hai bắt đầu từ ngày 30/3/1954, khi quân ta đồng loạt tiến công vào hệ thống cứ điểm phía Đông phân khu trung tâm. Mục tiêu là thắt chặt vòng vây, chia cắt triệt để, hạn chế tối đa lực lượng tiếp viện và nguồn hậu cần của địch thông qua sân bay Mường Thanh.
Đây được đánh giá là đợt tấn công dài ngày nhất, quyết liệt nhất và gay go nhất trong toàn chiến dịch. Quân ta và quân địch giành giật nhau từng đoạn giao thông hào, từng điểm cao, từng hệ thống phòng thủ. Sức kháng cự của quân Pháp rất mạnh với hy vọng kéo dài chiến dịch đến mùa mưa để ta buộc phải nới vòng vây.
Tại đồi C1, cuộc chiến diễn ra trong suốt 20 ngày với nhiều lần giằng co. Trên đồi A1 - một trong những vị trí chiến lược quan trọng nhất - các trận đánh kéo dài tới 30 ngày, được xem là trận chiến có cường độ ác liệt bậc nhất chiến dịch.
Cuộc chiến đấu các liệt diễn ra trên khu vực đồi C. (Ảnh: Tư liệu TTXVN)
Dù nỗ lực chống trả, thực dân Pháp ngày càng suy yếu và mất quyền kiểm soát nhiều cứ điểm quan trọng. Đợt tấn công thứ hai đã làm thay đổi đáng kể cục diện chiến trường, mở ra cơ hội lớn để quân ta tổng công kích.
Bước sang ngày 1/5/1954, quân ta mở đợt tấn công cuối cùng nhằm tiêu diệt nốt những vị trí phòng thủ còn lại của tập đoàn cứ điểm. Đây là thời điểm quyết định, có ý nghĩa then chốt đối với toàn bộ chiến dịch.
Trong suốt những ngày đầu tháng 5, các đơn vị chủ lực của ta tập trung đánh thẳng vào các mục tiêu trọng yếu, khiến hệ thống phòng ngự của địch nhanh chóng tan rã. Khi các cứ điểm chiến lược như A1, C2, E1 liên tiếp thất thủ, tập đoàn cứ điểm Pháp rơi vào tình trạng bị cô lập hoàn toàn.
Ngày 7/5/1954, sau một loạt đòn tấn công dồn dập, ta tiêu diệt và bắt sống toàn bộ bộ chỉ huy địch tại Điện Biên Phủ. Tướng De Castries cùng các sĩ quan tham mưu bị bắt ngay trong hầm chỉ huy. Lá cờ “Quyết chiến - Quyết thắng” của quân đội ta tung bay trên nóc hầm, đánh dấu thắng lợi hoàn toàn của chiến dịch.
Lá cờ "Quyết chiến - Quyết thắng" của quân đội nhân dân Việt Nam tung bay trên nóc hầm tướng De Castries. (Ảnh: Tư liệu TTXVN)
Chiến thắng Điện Biên Phủ đã đập tan tập đoàn cứ điểm mạnh nhất của thực dân Pháp, chấm dứt âm mưu kéo dài cuộc chiến, đồng thời tạo điều kiện quan trọng để đàm phán tại Hội nghị Geneva đi đến ký kết Hiệp định, lập lại hòa bình ở Đông Dương.
Chiến thắng Điện Biên Phủ không chỉ khép lại một chiến dịch quân sự vĩ đại mà còn mở ra chương mới cho dân tộc Việt Nam trên con đường giành độc lập, tự do. Ba đợt tấn công liên tiếp đã tạo nên bản hùng ca bất tử, trở thành biểu tượng sáng ngời về ý chí quật cường và sức mạnh đoàn kết của quân và dân ta.